Viết sakubun kể về khó khăn khi sống ở Nhật

Viết sakubun kể về khó khăn khi sống ở Nhật

Tới một đất nước xa lạ sinh sống, học tập và làm việc chưa bao giờ là điều dễ dàng. Đứng trước rào cản về ngôn ngữ, hẳn nhiều người sẽ cảm thấy bối rối, hoang mang, cùng với đó là hàng loạt những khó khăn do khác biệt về văn hóa, thể chế xã hội v…v… đem lại. Vấn đề phức tạp nhưng cũng không kém phần thú vị này chính là chủ đề được lựa chọn để khai thác trong chuyên mục luyện viết tiếng Nhật sau đây. Nếu quan tâm và có hứng thú, mời các bạn cùng tham khảo bài mẫu và cùng nhau luyện viết sakubun kể về khó khăn khi sống ở Nhật nhé!

sakubun kể về khó khăn khi sống ở Nhật

Bài mẫu sakubun kể về khó khăn khi sống ở Nhật

Dưới đây là sakubun (作文) của một du học sinh viết về những bỡ ngỡ, lo lắng ngày đầu đặt chân tới Nhật Bản.

Mở bài

私は 2008 年の4月,日本に来ました。
Watashi wa 2008-nen no 4 gatsu, Nihon ni kimashita.
Tôi tới Nhật vào tháng 4 năm 2008.

交換留学生として,茨城キリスト教大学で1年間勉強することになったのです。
Koukan ryuugakusei to shite, Ibaraki kirisuto kyou daigaku de ichinenkan benkyou suru koto ni natta no desu.
Tôi theo học tại đại học Ibaraki Christian với tư cách là sinh viên trao đổi trong vòng một năm.

日本での留学生活は初めての体験であり,初めての海外生活でもありました。
Nihon de no ryuugaku seikatsu wa hajimete no taiken de ari, hajimete no kaigai seikatsu de mo arimashita.
Du học Nhật Bản là trải nghiệm du học đầu tiên trong đời của tôi, cũng là lần đầu tiên tôi tới nước ngoài sinh sống.

Thân bài

日本に来たばかりのときは困ることの連続でした。
Nihon ni kita bakari no toki wa komaru koto no renzoku deshita.
Khi vừa đặt chân tới Nhật, tôi đã liên tiếp bối rối.

最初に困ったのは地震でした。
Saisho ni komatta no wa jishin deshita.
Điều khiến tôi bối rối đầu tiên là động đất.

何となく日本は地震が多いことを知っていたので,ある程度は覚悟をしていましたが,やはり実際に体験してみると,百聞は一見にしかずだと思いました。
Nantonaku Nihon wa jishin ga ooi koto wo shitte ita node, aruteido wa kakugo wo shite imashita ga, yahari jissai ni taiken shite miru to, hyakubun wa ikken ni shikazu da to omoimashita.
Tôi đã biết ở Nhật thường xuyên xảy ra động đất nên phần nào đã chuẩn bị tinh thần, nhưng phải đến khi trải nghiệm thực tế, tôi mới hiểu, quả là trăm nghe không bằng một thấy.

地震で家が揺れ始めると,私の心も一緒に揺らぎ始めました。
Jishin de ie ga yure hajimeru to, watashi no kokoro mo issho ni yuragi hajimemashita.
Lúc ngôi nhà bắt đầu rung lắc vì động đất, tim tôi cũng rung lắc theo.

特に大きい地震が来るとどうしていいのかわからなくて,すごく不安になっている自分がいました。
Tokuni ooikii jishin ga kuru to doushite ii no ka wakaranakute, sugoku fuan ni natte iru jibun ga imashita.
Nếu như động đất lớn hơn, tôi thực sự không biết phải làm thế nào, tôi vô cùng lo lắng sợ hãi.

しかし,日本人の友達に「きのうの地震,すごかったでしょう?怖くなかったの?」と聞いてみると,友達は「全然怖くなかったよ。本当に強い地震じゃないと家は倒れないから心配しなくてもいいよ」と落ち着いた声で答えました。
Shikashi, nihonjin no tomodachi ni “kinou no jishin, sugokatta deshou? Kowakunakatta no?” to kiite miru to, tomodachi wa `zenzen kowakunakatta yo. Hontouni tsuyoi jishin janaito ie wa taorenai kara shinpai shinakute mo ii yo’ to ochitsuita koe de kotaemashita.
Thế nhưng, khi tôi hỏi một bạn người Nhật “Trận động đất hôm qua dữ dội nhỉ? Cậu có sợ không?”, thì bạn ấy trả lời tôi bằng một giọng nói hết sức bình thản “Chẳng sợ chút nào. Đó không phải động đất mạnh nên nhà không sập được đâu, cậu đừng có lo”

そのとき私は,日本人って地震に慣れているんだなと思いました。
Sono toki watashi wa, nihonjin tte jishin ni narete iru nda na to omoimashita.
Lúc ấy, tôi nghĩ, người Nhật quả thực đã quá quen với động đất rồi.

日本での困ったことは地震だけではありませんでした。
Nihon de no komatta koto wa jishin dake dewa arimasen deshita.
Điều khiến tôi bối rối ở Nhật không chỉ có động đất.

日本には私の国と違った習慣がある。そういう習慣に出会ったとき、とても驚きましたし、そういう習慣についていけるのか不安でした。
Nihon ni wa watashi no kuni to chigatta shuukan ga aru. Souiu shuukan ni deatta toki, totemo odorokimashita shi, souiu shuukan ni tsuite ikeru no ka fuan deshita.
Nhật Bản có những phong tục tập quán khác với đất nước tôi. Khi tiếp xúc với những phong tục đó, tôi vừa kinh ngạc, vừa lo lắng, không biết mình có thể theo được những phong tục đó hay không.

でも時間がたつと,不安も無くなりこういう習慣に慣れてきたような気がしますし、最初は困った日本での生活も,日本のよさが見えてくるようになりました。
Demo jikan ga tatsu to, fuan mo nakunari kouiu shuukan ni narete kita youna ki ga shimasu shi, saisho wa komatta Nihon de no seikatsu mo, Nihon no yo-sa ga miete kuru you ni narimashita.
Nhưng thời gian trôi qua, lo lắng cũng biến mất và tôi có cảm giác mình đã quen với những phong tục tập quán đó, không những thế, tôi cũng bắt đầu nhận thấy được những điểm tốt trong cuộc sống ở Nhật mà lúc trước tôi đã vô cùng lúng túng.

日本のよさはいろいろありますが,一番日本のいいところは,優しさがあふれているところです。
Nihon no yo-sa wa iroiro arimasu ga, ichiban Nihon no ii tokoro wa, yasashi-sa ga afurete iru tokoro desu.
Có rất nhiều điều tốt đẹp ở đất nước Nhật Bản, tuy nhiên, điểm tuyệt nhất vẫn là lòng tốt ngập tràn ở khắp mọi nơi.

私が住んでいるアパートの大家さんは,初めて日本に来て不安を持っていた私に,学校までの近道やショッピングをするところなどを親切に教えてくれました。
Watashi ga sunde iru apaato no ooya-san wa, hajimete Nihon ni kite fuan wo motte ita watashi ni, gakkou made no chikamichi ya shoppingu wo suru tokoro nado wo shinsetsu ni oshiete kuremashita.
Chủ căn hộ mà tôi sống đã tận tình chỉ cho một đứa đầy lo lắng vì mới tới Nhật như tôi đường đến trường và cả cách mua sắm nữa.

また,バイト先を探していたところ,近くのレストランの店長さんは,気持ちよく外国人である私を採用してくれました。
Mata, baito-saki wo sagashite ita tokoro, chikaku no resutoran no tenchou-san wa, kimochiyoku gaikoku hito dearu watashi wo saiyou shite kuremashita.
Không những thế, khi tôi tìm việc làm thêm, quản lý nhà hàng gần nhà đã sẵn sàng đồng ý cho tôi vào làm dù tôi là người nước ngoài.

たまに日本語の意味がわからなくて焦っている私に,店長さんは親切に説明してくれました。
Tamani nihongo no imi ga wakaranakute asette iru watashi ni, tenchou-san wa shinsetsu ni setsumei shite kuremashita.
Những khi tôi luống cuống vì không hiểu tiếng Nhật, quản lý vẫn tận tình giải thích cho tôi.

Kết bài

そろそろ私は1年という留学生活を終えて韓国に帰ります。
Sorosoro watashi wa ichinen to iu ryuugaku seikatsu wo oete Kankoku ni kaerimasu.
Tôi sắp trở về Hàn Quốc sau khi kết thúc một năm du học.

私は日本に来る前でも日本が好きでしたが,私の思い出や経験したことがたくさんある今,日本はもっともっと好きになりました。
Watashi wa Nihon ni kuru mae demo Nihon ga suki deshita ga, watashi no omoide ya keiken shita koto ga takusan aru ima, Nihon wa motto motto suki ni narimashita.
Tôi yêu Nhật Bản ngay cả khi chưa đến Nhật, nhưng với thật nhiều những kỉ niệm và trải nghiệm tôi có tại đây, tôi cảm thấy mình đã yêu đất nước này hơn rất nhiều.

日本での思い出を胸に刻んで,韓国に帰っても忘れないようにしたいと思います。
Nihon de no omoide wo mune ni kizande, Kankoku ni kaette mo wasurenai you ni shitai to omoimasu.
Tôi sẽ khắc ghi những kỉ niệm ở Nhật Bản và dù trở về Hàn Quốc tôi cũng sẽ không bao giờ quên.

sakubun kể về khó khăn khi sống ở Nhật

Những lưu ý khi viết sakubun kể về khó khăn khi sống ở Nhật

Phần mở: Có thể vào bài bằng cách chỉ rõ thời gian bạn tới Nhật: 日本へ来てから一年が経った。(Nihon e kite kara ichi nen ga tatta – Đã một năm trôi qua kể từ khi tôi tới Nhật.) Sau đó giới thiệu khái quát mục đích (hoặc lý do) bạn tới Nhật.

Phần thân: Chọn lọc và phân tích những trải nghiệm nổi bật và đáng nhớ nhất của bạn kể từ khi tới Nhật. Nên chọn những trải nghiệm đặc trưng nhất của Nhật Bản như: thường xuyên xảy ra những trận động đất nhỏ, giá cả các mặt hàng cao, chưa thạo tiếng Nhật dẫn đến những tình huống dở khóc dở cười khi trò chuyện với người bản xứ v…v… Nếu Lưu ý, hãy chia thành nhiều đoạn để phân tích.

Sau khi liệt kê những trải nghiệm đó, hãy nêu lên những thay đổi (chuyển biến) của bạn từ khi tới Nhật. Ví dụ: tiếng Nhật cải thiện, đã làm quen được với phong tục tập quán v…v…

Phần kết: Kết lại vấn đề. Nêu cảm nghĩ của bạn về cuộc sống tại Nhật Bản và những dự định sau này.

Xem thêm: Viết sakubun về cuộc sống ở Nhật

Trên đây là bài mẫu và một số điều cần lưu ý khi viết sakubun kể về khó khăn khi sống ở Nhật. Hi vọng bài viết đã phần nào giúp các bạn biết cách xây dựng dàn ý và triển khai dàn ý đó thành một bài sakubun hoàn chỉnh. Hãy luyện tập thật nhiều để cải thiện và nâng cao kỹ năng viết sakubun nhé! Chúc các bạn học tiếng Nhật hiệu quả!

We on social : Facebook - Youtube - Pinterest

error: